Tin tức

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Trường Thọ: 6 huyện miền núi cần xác định cây trồng vật nuôi chủ lực ở địa phương

Thứ năm, 07/06/2018 - 10:16

Chiều 6.6, UBND tỉnh sơ kết 2 năm thực hiện Kết luận số 31 của Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ ba, khóa XIX về đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững ở 06 huyện miền núi của tỉnh giai đoạn 2016 - 2020. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Trường Thọ chủ trì cuộc họp. Tham dự còn có lãnh đạo UBMTTQVN tỉnh, các sở ban ngành của tỉnh và 6 huyện miền núi.



Qua 2 năm thực hiện Kết luận 31, tổng giá trị sản xuất thực hiện giai đoạn 2016-2017 tại 6 huyện miền núi đạt gần 10.000 tỷ đồng; tốc độ tăng  trưởng bình quân đạt 10,4 %, đạt yêu cầu. Đến cuối năm 2017, tỷ lệ che phủ rừng ở 6 huyện miền núi đạt trên 50%; trên 90%  hộ dân được sử dụng điện và  trên 80% hộ dân được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 36,97%, giảm 4,96% so với năm 2016 (bình quân giai đoạn 2016-2017, tỉ lệ hộ nghèo giảm 4,89%/năm đạt so với chỉ tiêu Kết luận đề ra). Năm 2016, 6 huyện miền núi giải quyết việc làm mới 4.900 lao động; năm 2017 là 5.100 lao động (cơ bản hoàn thành chỉ tiêu). Đến cuối năm 2017, tỉ lệ xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế là 60,3 % và dự kiến đến năm 2020 hoàn thành chỉ tiêu theo Kết luận đề ra; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm còn 32,81% (năm 2016 là 34,3%) và có khả năng đến năm 2020 hoàn thành chỉ tiêu theo Kết luận 31 đề ra. Việc thực hiện  Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi đạt kết quả tốt (06/06 huyện được công nhận hoàn thành công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi). Đến nay, tại 6 huyện miền núi có 8% trường mầm non, hơn  31% trường tiểu học, 14,5% trường THCS và  22,2% trường THPT ở 6 huyện miền núi đạt chuẩn quốc gia. Tại 6 huyện miền núi chưa có xã, thị trấn nào đạt chuẩn văn hóa và đạt chuẩn quốc gia về nông thôn mới.
Theo đánh giá của UBND tỉnh, sau 2 năm triển khai Kết luận số 31 của Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ ba (khóa XIX), kinh tế - xã hội ở 6 huyện miền núi phát triển nhưng chưa mạnh và  chưa mang tính đột phá. Một số chỉ tiêu về kinh tế chưa đảm bảo yêu cầu. Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, trong đó, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ còn thấp, tỷ lệ lao động trong ngành nông lâm nghiệp vẫn chiếm tỉ lệ cao. Công tác quản lý về đất đai, giao đất, giao rừng còn nhiều bất cập. Việc ứng dụng khoa học-công nghệ và sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, nên năng suất chất lượng cây trồng, vật nuôi vẫn  thấp. Lĩnh vực sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn còn nhỏ lẻ, việc đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, hạ tầng kỹ thuật và các điều kiện khác của cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp các huyện chưa hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư. Mạng lưới thương mại, dịch vụ ở các xã vùng cao còn hạn chế, thị trường tiêu thụ sản phẩm thiếu, chưa đa dạng. Tiến độ xây dựng Nông thôn mới chậm. Chất lượng giáo dục tuy đã được nâng lên, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực. Chất lượng dịch vụ y tế tuyến cơ sở chưa đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Đời sống của đại bộ phận nhân dân vùng cao còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng được đầu tư nhưng năng lực sản xuất-kinh doanh chưa thật sự nâng cao. Tỉ lệ hộ nghèo hàng năm tuy có giảm nhưng chưa thực sự vững chắc. Hàng năm, số hộ tái nghèo còn cao; vẫn còn tồn tại phổ biến tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước, của các tổ chức mà không tự vươn lên để thoát nghèo.
                                                                               Thiện Hòa

Thích và chia sẻ bài viết qua

Nhập bình luận của bạn:

Ý kiến bạn đọc ()

Cột phải trênCột phải trên
Lịch phát sóng truyền hình